Luis de la Fuente, HLV trưởng vĩ đại nhất lịch sử tuyển Tây Ban Nha?

Lịch sử bóng đá Tây Ban Nha từ nay có thêm một cái tên đứng trên đỉnh cao. Luis de la Fuente không còn đơn thuần là người đưa La Roja trở lại ngai vàng thế giới với ngôi sao thứ hai trên ngực áo, mà đã trở thành kiến trúc sư của một chu kỳ thành công hiếm có.
De la Fuente tiếp quản đội tuyển trong sự hoài nghi, giữa thời điểm Tây Ban Nha bước vào cuộc chuyển giao thế hệ và vẫn sống dưới cái bóng khổng lồ của thời đại hoàng kim 2008-2012. Chỉ vài năm sau, ông trả lời tất cả bằng những danh hiệu.
Nations League 2023 là điểm khởi đầu, khi Tây Ban Nha đánh bại Croatia trên chấm luân lưu để chấm dứt một thập kỷ không danh hiệu. Một năm sau, họ vô địch EURO 2024 bằng hành trình hoàn hảo với 7 chiến thắng, trước khi De la Fuente đưa đội bóng của mình trở lại đỉnh thế giới tại World Cup 2026.
Bốn giải đấu lớn dưới sự dẫn dắt của ông, Tây Ban Nha vào chung kết cả bốn và giành ba chức vô địch. Riêng ở cấp độ đội tuyển quốc gia, De la Fuente vẫn chưa biết cảm giác thất bại trong một trận chung kết.
Nhưng điều khiến di sản của ông đặc biệt không chỉ nằm ở số cúp. De la Fuente không tiếp quản một thế hệ được mặc định là phi thường. Ông phải xây dựng một thế hệ của riêng mình.
Lợi thế lớn nhất của nhà cầm quân này là sự am hiểu sâu sắc hệ thống bóng đá Tây Ban Nha. Trước khi dẫn dắt đội tuyển quốc gia, ông đã dành nhiều năm làm việc với các đội trẻ, từng vô địch châu Âu ở cấp U19 và U21, đồng thời giành huy chương bạc Olympic Tokyo.
Khi bước lên đội tuyển quốc gia, De la Fuente không cần mất nhiều thời gian để tìm hiểu những con người mình có. Ông đã biết họ từ khi còn trẻ, hiểu điểm mạnh, tính cách và cách những cầu thủ ấy có thể phát triển trong một hệ thống chung. Từ nền móng đó, một Tây Ban Nha mới được hình thành.

Lamine Yamal, Pedri, Dani Olmo, Fabian Ruiz, Marc Cucurella, Ferran Torres hay Pau Cubarsi đại diện cho một thế hệ trưởng thành trong môi trường mà De la Fuente hiểu rõ. Ông kết hợp sức trẻ ấy với những trụ cột giàu kinh nghiệm để tạo nên một tập thể có bản sắc rất rõ ràng: pressing quyết liệt, kiểm soát bóng nhưng không kiểm soát một cách vô nghĩa, sẵn sàng chơi trực diện và đặc biệt có khả năng thích nghi với nhiều kiểu trận đấu.
Đây cũng là điểm khác biệt đáng kể so với hình ảnh Tây Ban Nha trong nhiều năm trước đó.
La Roja từng bị mắc kẹt trong chính di sản của thời đại tiki-taka, kiểm soát bóng vượt trội song đôi khi thiếu tốc độ, chiều sâu và khả năng kết liễu đối thủ. De la Fuente không phá bỏ bản sắc kỹ thuật truyền thống, ông chỉ khiến nó tiến hóa.
Tây Ban Nha vẫn muốn có bóng, nhưng biết tấn công nhanh. Họ vẫn kiểm soát khu trung tuyến, nhưng đồng thời sở hữu những cầu thủ có thể kéo giãn sân đấu và thắng trong các tình huống một đối một. Quan trọng nhất, đội bóng này biết chiến thắng theo nhiều cách khác nhau.
Vì thế, hành trình của De la Fuente không thể tránh khỏi việc được đặt cạnh hai người khổng lồ trong lịch sử La Roja, đó là Luis Aragones và Vicente del Bosque.
Aragones là người thay đổi tâm lý của bóng đá Tây Ban Nha. Ông giúp một nền bóng đá vốn nổi tiếng với những thất bại đau đớn ở các giải đấu lớn tin rằng họ thực sự có thể trở thành nhà vô địch. EURO 2008 không đơn thuần là một chiếc cúp, mà là cuộc cách mạng mở ra thời đại huy hoàng nhất lịch sử La Roja.
Del Bosque kế thừa nền móng ấy và đưa nó tới đỉnh cao. Với thế hệ gồm Iker Casillas, Xavi, Andres Iniesta, Sergio Ramos hay Xabi Alonso, Tây Ban Nha vô địch World Cup 2010 rồi bảo vệ ngai vàng châu Âu năm 2012, tạo nên một trong những triều đại vĩ đại nhất lịch sử bóng đá đội tuyển.

De la Fuente có một thử thách khác. Ông phải chứng minh Tây Ban Nha có thể trở lại đỉnh cao sau khi thế hệ huyền thoại ấy biến mất. Đó có lẽ là giá trị lớn nhất trong công trình của vị chiến lược gia 65 tuổi. De la Fuente không cố gắng tái tạo đội tuyển năm 2010, mà đi xây dựng một Tây Ban Nha khác cho một thời đại khác.
Trên hành trình ấy, La Roja lần lượt vượt qua nhiều quyền lực lớn của bóng đá thế giới như Đức, Pháp, Anh và Argentina. Một tập thể trẻ nhưng thi đấu với sự trưởng thành đáng kinh ngạc đã chứng minh thành công của họ không phải sản phẩm của một giải đấu bùng nổ nhất thời.
World Cup 2026 là sự xác nhận cuối cùng.
Chiến thắng trước Argentina trong trận chung kết tại MetLife đưa ngôi sao thứ hai lên áo đấu Tây Ban Nha, đồng thời hoàn thiện di sản của người đàn ông từng bước lên chiếc ghế nóng trong sự hoài nghi.
So sánh những thời đại khác nhau chắc chắn chưa bao giờ dễ dàng. Aragones là người mở cánh cửa. Del Bosque đưa Tây Ban Nha bước qua đó để tạo nên một đế chế. Song De la Fuente đã làm được điều tưởng như khó hơn sau khi đế chế ấy sụp đổ: xây dựng một triều đại mới.
Ông làm điều đó bằng những cầu thủ mình từng chứng kiến trưởng thành, bằng một ý tưởng bóng đá vừa kế thừa truyền thống vừa thích nghi với thời đại, và cuối cùng bằng những danh hiệu. Ba chức vô địch trong bốn lần vào chung kết ở bốn giải đấu là một hồ sơ gần như không thể tranh cãi.
Ngôi sao thứ hai trên ngực áo Tây Ban Nha vì thế không chỉ đánh dấu thêm một chức vô địch World Cup. Nó còn đặt Luis de la Fuente vào vị trí đặc biệt trong lịch sử La Roja. Aragones thay đổi Tây Ban Nha. Del Bosque đưa Tây Ban Nha thống trị thế giới. Còn De la Fuente chứng minh Tây Ban Nha có thể làm tất cả một lần nữa.
Bình Luận
- LTĐ
- Kết Quả
- BXH
| Ngày 22/07/2026 | |||
|---|---|---|---|
| UEFA Champions League | |||
Aarhus AGF
|
00:00 |
Lech Poznan
|
|
Thun
|
01:00 |
Dinamo Zagreb
|
|
Fenerbahce
|
01:00 |
Gornik Zabrze
|
|
Sturm Graz
|
01:30 |
Hearts
|
|
KI Klaksvik
|
01:45 |
Kauno Zalgiris
|
|
Larne
|
02:00 |
Crvena Zvezda
|
|
Vikingur R.
|
02:00 |
H. Beer Sheva
|
|
| UEFA Conference League | |||
IFK Goteborg
|
00:00 |
Levadia Tallinn
|
|
Floriana
|
00:30 |
Drita
|
|
Atert Bissen
|
01:15 |
Gyori ETO
|
|
Neftci Baku
|
23:00 |
Dinamo Minsk
|
|
| Ngày 23/07/2026 | |||
| UEFA Champions League | |||
Omonia Nicosia
|
00:00 |
Kairat Almaty
|
|
Levski Sofia
|
00:30 |
Univ Craiova
|
|
Egnatia
|
02:00 |
Publikum Celje
|
|
| UEFA Conference League | |||
Bohemians
|
00:00 |
Ballkani
|
|
Başakşehir
|
00:45 |
Inter Turku
|
|
Vardar Skopje
|
01:00 |
Riga FC
|
|
Spartak Trnava
|
01:30 |
CSKA 1948 Sofia
|
|
Zeleznicar Pancevo
|
02:00 |
Sporting Braga
|
|
Malisheva
|
21:30 |
Hibernian
|
|
FK Liepaja
|
22:00 |
Austria Vienna
|
|
Alashkert
|
22:00 |
CFR Cluj
|
|
Panevezys
|
22:30 |
Tobol Kostanai
|
|
HJK Helsinki
|
23:00 |
Coleraine
|
|
Dila Gori
|
23:00 |
Apollon Limassol
|
|
Flora Tallinn
|
23:00 |
The New Saints
|
|
Paide
|
23:00 |
Zira
|
|
Debrecen
|
23:00 |
FC Pyunik
|
|
Dunajska Streda
|
23:30 |
Velez Mostar
|
|
AEK Larnaca
|
23:30 |
Beitar Jerusalem
|
|
Rigas FS
|
23:30 |
Vestri
|
|
Rakow Czestochowa
|
23:30 |
Valletta
|
|
| UEFA Europa League | |||
Qarabag
|
23:00 |
CSKA Sofia
|
|
| Ngày 24/07/2026 | |||
| UEFA Europa League | |||
Hammarby
|
00:00 |
Anderlecht
|
|
Tromso IL
|
00:00 |
Hradec Kralove
|
|
Sheriff Tiraspol
|
00:00 |
Maccabi Tel Aviv
|
|
Dynamo Kyiv
|
00:00 |
PAOK
|
|
St. Gallen
|
01:00 |
Benfica
|
|
Besiktas
|
01:00 |
Midtjylland
|
|
Twente
|
01:00 |
Ferencvaros
|
|
Hajduk Split
|
02:00 |
Pafos
|
|
| UEFA Conference League | |||
GAIS
|
00:00 |
Nordsjaelland
|
|
Zimbru Chisinau
|
00:00 |
FC Noah
|
|
Varteks Varazdin
|
00:00 |
Baumit Jablonec
|
|
BATE Borisov
|
00:00 |
Sion
|
|
Dinamo Tbilisi
|
00:00 |
Zalgiris Vilnius
|
|
Santa Coloma
|
00:00 |
Rapid Wien
|
|
Universitaea Cluj
|
00:00 |
Brann
|
|
BC Maxline
|
00:00 |
Sutjeska Niksic
|
|
Vaduz
|
00:30 |
Atletic Escaldes
|
|
FCSB
|
00:45 |
Auda Riga
|
|
Polissya Zhytomyr
|
01:00 |
Copenhagen
|
|
Paksi
|
01:00 |
Panathinaikos
|
|
Vojvodina
|
01:00 |
Ajax
|
|
Aluminij
|
01:00 |
Dinamo Tirana
|
|
Hapoel Tel Aviv
|
01:30 |
Ludogorets Razgrad
|
|
Borac Banja Luka
|
01:30 |
Petrocub
|
|
Lugano
|
01:30 |
KF Dukagjini
|
|
LNZ Cherkasy
|
01:30 |
Gent
|
|
MSK Zilina
|
01:30 |
GKS Katowice
|
|
Rijeka
|
01:45 |
Derry City
|
|
Shelbourne
|
01:45 |
Kalju
|
|
Motherwell
|
01:45 |
HB Torshavn
|
|
Bravo
|
01:45 |
Shkendija
|
|
Stjarnan
|
02:00 |
Ilves Tampere
|
|
Partizan
|
02:00 |
UNA Strassen
|
|
Valur Reykjavik
|
02:15 |
Zrinjski Mostar
|
|
NSI Runavik
|
02:45 |
Koper
|
|
| Ngày 21/07/2026 | |||
|---|---|---|---|
| UEFA Champions League | |||
| 23:00 |
Iberia 1999
|
0:0 |
Slovan Bratislava
|
| 23:00 |
Sabah Baku
|
0:0 |
KuPs
|
| 23:00 |
Ararat-Armenia
|
0:0 |
Shamrock Rovers
|
| 23:00 |
Mjallby
|
0:0 |
Lincoln RI
|
| Ngày 20/07/2026 | |||
| World Cup | |||
| 02:00 |
Tây Ban Nha
|
1:0 |
Argentina
|
| Ngày 19/07/2026 | |||
| World Cup | |||
| 04:00 |
Pháp
|
4:6 |
Anh
|
| TT | Đội bóng | Trận | +/- | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 |
Arsenal
|
0 | 0 | 0 |
| 2 |
Man City
|
0 | 0 | 0 |
| 3 |
Man Utd
|
0 | 0 | 0 |
| 4 |
Aston Villa
|
0 | 0 | 0 |
| 5 |
Liverpool
|
0 | 0 | 0 |
| 6 |
Bournemouth
|
0 | 0 | 0 |
| 7 |
Sunderland
|
0 | 0 | 0 |
| 8 |
Brighton
|
0 | 0 | 0 |
| 9 |
Brentford
|
0 | 0 | 0 |
| 10 |
Chelsea
|
0 | 0 | 0 |
| 11 |
Fulham
|
0 | 0 | 0 |
| 12 |
Newcastle
|
0 | 0 | 0 |
| 13 |
Everton
|
0 | 0 | 0 |
| 14 |
Leeds United
|
0 | 0 | 0 |
| 15 |
Crystal Palace
|
0 | 0 | 0 |
| 16 |
Nottingham
|
0 | 0 | 0 |
| 17 |
Tottenham
|
0 | 0 | 0 |
| 18 |
Coventry City
|
0 | 0 | 0 |
| 19 |
Ipswich Town
|
0 | 0 | 0 |
| 20 |
Hull City
|
0 | 0 | 0 |
Aarhus AGF
Lech Poznan
Thun
Dinamo Zagreb
Fenerbahce
Gornik Zabrze
Sturm Graz
Hearts
KI Klaksvik
Kauno Zalgiris
Larne
Crvena Zvezda
Vikingur R.
H. Beer Sheva
IFK Goteborg
Levadia Tallinn
Floriana
Drita
Atert Bissen
Gyori ETO
Neftci Baku
Dinamo Minsk
Omonia Nicosia
Kairat Almaty
Levski Sofia
Univ Craiova
Egnatia
Publikum Celje
Bohemians
Ballkani
Başakşehir
Inter Turku
Vardar Skopje
Riga FC
Spartak Trnava
CSKA 1948 Sofia
Zeleznicar Pancevo
Sporting Braga
Malisheva
Hibernian
FK Liepaja
Austria Vienna
Alashkert
CFR Cluj
Panevezys
Tobol Kostanai
HJK Helsinki
Coleraine
Dila Gori
Apollon Limassol
Flora Tallinn
The New Saints
Paide
Zira
Debrecen
FC Pyunik
Dunajska Streda
Velez Mostar
AEK Larnaca
Beitar Jerusalem
Rigas FS
Vestri
Rakow Czestochowa
Valletta
Qarabag
CSKA Sofia
Hammarby
Anderlecht
Tromso IL
Hradec Kralove
Sheriff Tiraspol
Maccabi Tel Aviv
Dynamo Kyiv
PAOK
St. Gallen
Benfica
Besiktas
Midtjylland
Twente
Ferencvaros
Hajduk Split
Pafos
GAIS
Nordsjaelland
Zimbru Chisinau
FC Noah
Varteks Varazdin
Baumit Jablonec
BATE Borisov
Sion
Dinamo Tbilisi
Zalgiris Vilnius
Santa Coloma
Rapid Wien
Universitaea Cluj
Brann
BC Maxline
Sutjeska Niksic
Vaduz
Atletic Escaldes
FCSB
Auda Riga
Polissya Zhytomyr
Copenhagen
Paksi
Panathinaikos
Vojvodina
Ajax
Aluminij
Dinamo Tirana
Hapoel Tel Aviv
Ludogorets Razgrad
Borac Banja Luka
Petrocub
Lugano
KF Dukagjini
LNZ Cherkasy
Gent
MSK Zilina
GKS Katowice
Rijeka
Derry City
Shelbourne
Kalju
Motherwell
HB Torshavn
Bravo
Shkendija
Stjarnan
Ilves Tampere
Partizan
UNA Strassen
Valur Reykjavik
Zrinjski Mostar
NSI Runavik
Koper
Iberia 1999
Slovan Bratislava
Sabah Baku
KuPs
Ararat-Armenia
Shamrock Rovers
Mjallby
Lincoln RI
Tây Ban Nha
Argentina
Pháp
Anh
Arsenal
Man City
Man Utd
Aston Villa
Liverpool
Bournemouth
Sunderland
Brighton
Brentford
Chelsea
Fulham
Newcastle
Everton
Leeds United
Crystal Palace
Nottingham
Tottenham
Coventry City
Ipswich Town
Hull City